Tổng quan

1.1 TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG MÁY PHÂN TÍCH KHỚP CẮN ĐIỆN TOÁN T-SCAN III
1.1.1 Cấu trúc máy T-Scan III: bao gồm (Hình 1.4)
• Thân chính của máy T-Scan III
• Phần giữ sensor
• Sensor ghi dấu tiếp xúc cắn khớp
• Phần mềm T-Scan để đọc kết quả trên máy tính

Hình 1.4 Hệ thống máy T-Scan III

Hình 1.4 Hệ thống máy T-Scan III

1.1.1.1 Thân chính của máy T-Scan III (Scanning handle): (Hình 1.5)
Thân máy có các nút thu và đèn tín hiệu. Gồm 1 đầu là cổng USB 2.0 để nối với máy tính, 1 đầu sẽ nối với phần giữ và Sensor. Máy không thể tiệt trùng mà chỉ thay bọc nhựa riêng cho mỗi lần sử dụng.

Hình 1.5 Thân chính của máy

Hình 1.5 Thân chính của máy

1.1.1.2 Phần giữ sensor để gắn vào máy T-scan (Sensor support):
Có 2 kích cỡ: Lớn và nhỏ (Hình 1.6)

Hình 1.6 Phần giữ sensor

Hình 1.6 Phần giữ sensor

Khử trùng bằng cách hấp Autoclove
1.1.1.3 Phần sensor để ghi dấu Tiếp Xúc Cắn Khớp – TXCK (Sensor):
– Cũng có 2 size lớn và nhỏ (Hình 1.7)
– Theo nhà sản xuất sensor ghi TXCK của hệ thống máy này không bị ảnh hưởng bởi nước bọt như là các vật liệu ghi dấu truyền thống.

Hình 1.7 Sensor của T-Scan

Hình 1.7 Sensor của T-Scan

Tekscan đã giới thiệu thế hệ sensor điện tử thế hệ thứ 4, bề dày là 100 micromet và có khả năng uốn dẻo cao hơn các thế hệ trước. Sensor của có kích cỡ lớn chứa 1370 điểm nhận cảm áp lực, sensor nhỏ chứa 1122 điểm. Những vị trí này được xem như những “yếu tố nhận cảm” (sensing elements), được sắp xếp thep chiều cột và hàng.
Sensor hiện nay đã bền hơn thế hệ trước nhiều,có thể thực hiện 15 tới 25 lần ghi cho mỗi bệnh nhân và không có thời hạn sử dụng.Khử trùng bằng cách dùng cồn lau khô và sử dụng tiếp theo trên bệnh nhân đó.
Cách tháo lắp máy:

Hình 1.8 Cách tháo lắp máy

Hình 1.8 Cách tháo lắp máy

1.1.1.4 Phần mềm trên máy tính(Hình 1.9)
Hiện nay phần mềm mới nhất kèm theo để đọc kết quả ghi nhận được là phần mềm T-Scan 8.0.1 (Tekscan, USA)

Hình 1.9 Giao diện chính của phần mềm T-scan 8.0.1

Hình 1.9 Giao diện chính của phần mềm T-scan 8.0.1

Thông qua phần mềm T-Scan 8.0.1 có thể xác định được rất nhiều đặc điểm tiếp xúc cắn khớp tại các vị trí TXCK khác nhau thể hiện trên giao diện chính của phần mềm trên máy vi tính.
1.1.2 Các đặc điểm tiếp xúc cắn khớp được khảo sát trên T-Scan
Sự tiếp xúc các răng tại LMTĐ và trong vận động trượt sang bên sau khi ghi TXCK bằng sensor sẽ được được phần mềm T-Scan 8.0.1 xử lý một cách chính xác theo trình tự thời gian diễn ra tiếp xúc và được hiển thị trong phần mềm này trên máy vi tính thành những đoạn phim động trên các biểu đồ 2 chiều, 3 chiều và đồ thị biểu diễn lực cắn và thời gian tiếp xúc cắn khớp.
1.1.2.1 Tại lồng múi tối đa có thể ghi nhận nhiều đặc điểm TXCK:
• Đồ thị biễu diễn % lực cắn và thời gian tiếp xúc cắn khớp tại LMTĐ phân chia theo nửa phải và nửa trái cung hàm: (Hình 1.10)

Hình 1.10 Đồ thị biểu diễn lực cắn và thời gian tiếp xúc cắn khớp.

Hình 1.10 Đồ thị biểu diễn lực cắn và thời gian tiếp xúc cắn khớp.

– Các đặc điểm TXCK tại LMTĐ sẽ được phân tích trong khoảng thời gian từ A tới C ( Hình 1.10)
– Lực cắn tại LMTĐ được biểu hiện theo 3 đường: (đơn vị tính : %) [Hình 1.10] + Đường biểu thị tổng lực cắn của toàn bộ cung hàm tại LMTĐ : là đường màu đen.
+  Đường biểu thị tổng lực cắn của nửa hàm bên trái tại LMTĐ : là đường màu xanh lá cây
+ Đường biểu thị tổng lực cắn của nửa hàm bên phải tại LMTĐ: là đường màu đỏ
Trên đồ thị này có 4 mốc thời gian là: A,B,C và D. Trong đó:
A: Vị trí có tiếp xúc răng đầu tiên (First Contact)
B: Vị trí các răng bắt đầu tiếp xúc hoàn toàn
C: Vị trí các răng bắt đầu rời khỏi vị trí LMTĐ
D: Vị trí các răng không còn tiếp xúc
– Thời gian tiếp xúc tại LMTĐ: (đơn vị tính: giây ) [ Hình 1.10] + Thời gian ăn khớp (OT = Occlusion Time): thời gian từ A tới B
Trên T-Scan khái niệm “Thời gian ăn khớp” là thời gian từ lúc có tiếp xúc răng đầu tiên tới khi các răng tiếp xúc hoàn toàn [29], thời gian này biểu hiện mức độ tiếp xúc răng đồng thời và cân bằng của hai bên cung hàm. Nếu OT càng ngắn thì hành trình hàm dưới đóng vào LMTĐ càng nhanh.
+ Thời gian LMTĐ diễn ra (thời gian từ B tới C), trong khoảng thời gian này có 3 vị trí quan trọng (được chọn trong phần mềm):
Vị trí các răng bắt đầu tiếp xúc hoàn toàn
Vị trí lồng múi tối đa (Maximum Intercuspation)
Vị trí có tổng lực cắn lớn nhất tại LMTĐ (Maximum Bite Force)
+ Thời gian hàm dưới bắt đầu rời khỏi vị trí LMTĐ tới lúc 2 hàm không còn tiếp xúc (từ C tới D)
• Ngoài ra phần mềm còn có thể phân chia đồ thị theo ¼ cung hàm để phân tích các đặc điểm về TXCK:
image029

Hình 1.11 Phân chia cung hàm thành 4 phần để đánh giá đặc điểm TXCK tại LMTĐ

Hình 1.11 Phân chia cung hàm thành 4 phần để đánh giá đặc điểm TXCK tại LMTĐ

Lúc này lực cắn tại LMTĐ sẽ được biểu thị bằng màu sắc của các đường lực trên biểu đồ và đồ thị như sau: (Hình 1.11)
Màu xanh dương nhạt: ¼ vùng răng sau bên trái
Màu xanh đậm: ¼ vùng răng trước bên trái
Màu nâu : ¼ vùng răng trước bên phải
Màu hồng nhạt : ¼ vùng răng sau bên phải
• Biểu đồ 2 chiều và 3 chiều hiển thị các đặc điểm:
– Tiếp xúc đầu tiên tại LMTĐ: Chọn trong phần mềm vị trí tiếp xúc đầu tiên (First Contact), phần mềm sẽ điều chuyển tới vị trí “A” trên đồ thị và trong hình ảnh 2 chiều và 3 chiều ta sẽ đọc được kết quả răng tiếp xúc (Hình 1.12)

Hình 1.12a (2 chiều)                    Hình 1.12b (3 chiều)

image043

Hình 1.12a (2 chiều) Hình 1.12b (3 chiều)

Hình 1.12a (2 chiều) Hình 1.12b (3 chiều)

– Diện tích tiếp xúc trên từng răng được tính theo 2 cách:
2 chiều (Hình 1.13a) 3 chiều (Hình 1.13b)
image031image049Hình 1.13 Biểu đồ 2 chiều và 3 chiều thể hiện các điểm ảnh (pixels) và lực tiếp xúc (%) tại lồng múi tối đa
+ Tính bằng cách đếm số lượng điểm ảnh (pixel) trong từng ô của mỗi răng (Hình 1.13a)
+ Đưa hình ảnh vào phần mềm Adobe Photoshop CS6 sau đó vẽ đường viền của diện tích tiếp xúc và phần mềm này sẽ tính số điểm ảnh (Trong chế độ hiển thị : “2D Contours” trong phần mềm)
– Lực cắn trên từng răng :
+ Lực được tính bằng đơn vị % ở mỗi răng (so với lực cắn của toàn bộ cung hàm = 100%) theo từng thời điểm tiếp xúc và thể hiện phía bên trong cung răng (Hình 1.13a).
+ Mức độ tiếp xúc mạnh hay nhẹ được biểu thị bằng các điểm màu khác nhau trên biểu đồ 2 chiều (Hình 1.13a) và những cột cao thấp có màu sắc lực khác nhau trong không gian 3 chiều (Hình 1.13b)
+ Các vị trí có tiếp xúc mạnh hay nhẹ được phân bố theo màu sắc lực như sau : (Hình 1.14)

Hình 1.14 Quy định về màu sắc lực trên biểu đồ 2 chiều và 3 chiều

Hình 1.14 Quy định về màu sắc lực trên biểu đồ 2 chiều và 3 chiều

Màu xanh đậm: lực nhỏ nhất
Màu đỏ và hồng: lực cao nhất
+ Hiện nay còn có một phiên bản máy T-Scan khác, trong đó lực cắn được tính bằng đơn vị Newtons (N) có chi phí gấp 4 lần loại thông thường được tính theo %.
– Tỉ lệ % lực cắn của 1/2 cung hàm phải và trái tại mỗi thời điểm tiếp xúc:
Kết quả được ghi nhận trên biểu đồ 2 chiều (góc dưới cùng trên biểu đồ): tổng giá trị % của 2 bên cung hàm luôn bằng 100% (Hình 1.15)

Hình 1.15 % lực cắn của mỗi nửa cung hàm trên biểu đồ 2 chiều

Hình 1.15 % lực cắn của mỗi nửa cung hàm trên biểu đồ 2 chiều

– Tỉ lệ % lực cắn của 1/4 mỗi nửa cung hàm phải và trái tại mỗi thời điểm tiếp xúc:Cung hàm sẽ được chia làm 4 phần hàm: nửa trước và nửa sau bên phải, nửa trước và nửa sau bên trái. Kết quả được ghi nhận trên biểu đồ 2 chiều: tổng giá trị % của 4 phần hàm luôn bằng 100%.(Hình 1.16)

Hình 1.16 Tỉ lệ % lực cắn của 1/4 cung hàm trên biểu đồ 2 chiều

Hình 1.16 Tỉ lệ % lực cắn của 1/4 cung hàm trên biểu đồ 2 chiều

• Trung tâm lực và quỹ đạo trung tâm lực:
– Trung tâm lực (COF = Center Of Force): Định vị vị trí tổng tất cả lực của các TXCK được hiển thị bằng ô vuông lớn màu trắng và đỏ.(Hình 1.17)

Hình 1.16 Tỉ lệ % lực cắn của 1/4 cung hàm trên biểu đồ 2 chiều

Hình 1.16 Tỉ lệ % lực cắn của 1/4 cung hàm trên biểu đồ 2 chiều

– Đường đi của trung tâm lực (COFT = Center Of Force Trajectory): Sau khi trung tâm lực xuất hiện và dời đi chỗ khác thì để lại hình ảnh là đường kẻ đôi viền màu đỏ. Đường đi như vậy tạo thành một cái “đuôi” trên biểu đồ 2 chiều. Phân tích kết quả của COFT tại LMTĐ có thể đánh giá được sự cân bằng hay mất cân bằng của lực khi đóng hàm.(Hình 1.17)
– Trong trường hợp lý tưởng ở LMTĐ, COFT chạy theo đường thẳng từ trước ra sau, dọc theo trục giữa.(Hình 1.17)
– Ở đường giữa cung hàm có hình elip đôi (hình elip nhỏ phía trong nền màu trắng, hình elip lớn phía ngoài nền màu xám): Theo Maness (1989) và Mizui (1994) ở LMTĐ thì đường đi của trung tâm lực khoảng 68% nằm ở trong elip nhỏ và 95% nằm ở elip lớn [23],[25] (Hình 1.18)

Hình 1.18 Các giá trị trên trung tâm lực

Hình 1.18 Các giá trị trên trung tâm lực

• Kết Luận:
Dựa trên kết quả ghi nhận được tại lồng múi tối đa, T-Scan có thể đánh giá và phân tích được % lực cắn trên từng răng,từng vùng răng, diện tích tiếp xúc trên từng răng, thời gian ăn khớp (Occlusion Time – OT), các vị trí có tiếp xúc mạnh hay nhẹ, răng tiếp xúc đầu tiên trong quá trình đóng hàm.
1.1.2.2 Các đặc điểm tiếp xúc trong quá trình đưa hàm sang bên
Trên T-Scan quá trình xảy ra tiếp xúc sang bên là khoảng thời gian từ C tới D, các đặc điểm về TXCK trong vận động sang bên sẽ được phân tích trong thời gian này, trong đó:
C: Vị trí hàm dưới bắt đầu rời khỏi vị trí LMTĐ và trượt sang bên
D: Vị trí chỉ còn răng hướng dẫn cuối cùng tiếp xúc
• Đồ thị biễu diễn thời gian tiếp xúc sang bên và % lực cắn của 2 bên hàm trong suốt vận dộng sang bên:

Hình 1.19 Đồ thị biểu thị lực và thời gian tiếp xúc khi đưa hàm sang phải

Hình 1.19 Đồ thị biểu thị lực và thời gian tiếp xúc khi đưa hàm sang phải

– Tỉ lệ % lực cắn: từ khi hàm dưới rời khỏi vị trí lồng múi tối đa “Vị trí C” và đưa hàm sang bên thì: (Hình 1.19)
+ Tổng lực cắn của 2 hàm (đường màu đen): có sự giảm lực từ từ
+ Lực bên hàm không làm việc (đường màu xanh): giảm lực khi hàm dưới rời khỏi vị trí LMTĐ và trượt sang bên phải.
+ Lực bên hàm làm việc (đường màu đỏ): lực tăng lên cao khi hàm dưới rời khỏi vị trí LMTĐ và trượt sang bên phải.
– Thời gian nhả khớp (DT = Disclusion Time): là thời gian từ C tới D (Hình 1.19)
+ Thời gian nhả khớp (đây là thời gian diễn ra vận động sang bên), trên T-Scan thời gian này được tính từ lúc hàm dưới rời khỏi vị trí lồng múi sau đó trượt sang bên đến khi chỉ còn răng hướng dẫn cuối cùng tiếp xúc.
+ Lý tưởng hướng dẫn trong vận động sang bên thì răng cuối cùng tham gia hướng dẫn tiếp xúc là răng nanh, tất cả các răng sau phải nhả khớp hoàn toàn. Điều này giúp cho thời gian thực hiện vận động đưa hàm sang bên diễn ra nhanh hơn.
+ Trong trường hợp có hướng dẫn nhóm hoặc còn tiếp xúc bên không làm việc thì giá trị của DT là vô hạn và DT lúc này sẽ được ghi nhận là thời gian cho đến khi quá trình sang bên kết thúc.
• Biểu đồ 2 chiều và 3 chiều khi đưa hàm sang bên ở từng thời điểm sẽ thể hiện:
Hình 1.20a (2 chiều) Hình 1.20b (2 chiều)

image071

Hình 1.20 Biểu đồ 2 chiều và 3 chiều thể hiện các răng hướng dẫn khi đưa hàm sang phải

Hình 1.20 Biểu đồ 2 chiều và 3 chiều thể hiện các răng hướng dẫn khi đưa hàm sang phải

– Các răng có tiếp xúc trong vận động sang bên và lực tiếp xúc trên từng răng:
+ Lực được tính bằng đơn vị % ở mỗi răng theo từng thời điểm tiếp xúc và thể hiện phía bên trong cung răng (Hình 1.20a)
+ Mức độ tiếp xúc mạnh hay nhẹ được biểu thị bằng các điểm màu khác nhau trên hình 2 chiều (Hình 1.19a) và những cột cao thấp có màu sắc khác nhau trên biểu đồ 3 chiều (Hình 1.20b)
– Diện tích tiếp xúc trên các răng: biểu hiện theo số lượng điểm ảnh trong từng ô của mỗi răng (Hình 1.20a)
• Ngoài ra phần mềm còn có thể chia đồ thị biễu diễn thời gian tiếp xúc sang bên và % lực cắn thành 4 phần hàm để dễ phân tích hơn:

image075

Hình 1.21 Minh họa hướng dẫn sang phải khi phân chia cung hàm thành 4 phần trong trường hợp đưa hàm sang phải

Hình 1.21 Minh họa hướng dẫn sang phải khi phân chia cung hàm thành 4 phần trong trường hợp đưa hàm sang phải

Tương tự như ở LMTĐ, màu sắc các đường biểu thị lực trên mỗi phần hàm cũng được quy định như vậy ở trong vận động sang bên.
Trong trường hợp ở hình 1.21 thì hướng dẫn đưa hàm sang phải diễn ra trên các răng 13, 14. 1/4 cung hàm trước bên phải là phần chịu lực (đường lực màu nâu tăng lên cao trong đồ thị)
• Đường đi của trung tâm lực trong vận động sang bên:
Khi hàm dưới trượt sang bên, đường đi trung tâm lực sẽ là môt đường chéo sang bên phần hàm hướng dẫn, giúp chúng ta dễ dàng quan sát các răng hướng dẫn phải chịu lực là bao nhiêu trên biểu đồ 2 chiều.

Hình 1.22 Minh họa đường đi của trung tâm lực trong vận động sang phải (hướng dẫn trên R14)

Hình 1.22 Minh họa đường đi của trung tâm lực trong vận động sang phải (hướng dẫn trên R14)

• Kết luận: Dựa trên kết quả ghi nhận được tại lồng múi tối đa, T-Scan có thể đánh giá và phân tích được được các kiểu tiếp xúc trong hướng dẫn sang bên, thời gian nhả khớp va lực cắn trên các răng tiếp xúc.
(theo Sang Min Lee,2013) [30] 1.3. CÁC ỨNG DỤNG T-SCAN TRONG CHUYÊN NGÀNH RĂNG HÀM MẶT:
” Cắn khớp là nền tảng cần thiết cho mọi công việc của nha sĩ khi thực hành nha khoa. Kiến thức thấu đáo về cắn khớp là cơ sở để có thể hiểu được tại sao lại có sự mất răng, tại sao lại có sự mòn quá mức trên các răng, gãy vỡ múi răng, hư hỏng các phục hình hay là sự dịch chuyển vị trí của chúng. Bất hài hòa khớp cắn là một lý do chính khi phải điều trị tình trạng đau răng, đau cơ và đau miệng mặt, trong đó có tỉ lệ % cao của bệnh đau đầu căng thẳng mãn tính ” (Dawson, 2013) [9].

Có nhiều công cụ để chúng ta có thể tạo ra một khớp cắn “hoàn hảo” và T-Scan là một trong những công cụ đó. Nó có thể giúp chẩn đoán chính xác tình trạng khớp cắn xấu, điều chỉnh máng nhai, cân bằng khớp cắn và nhiều giá trị hữu ích. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng dấu được in bởi giấy cắn thì không chính xác như T-Scan, đây là công cụ giúp đạt được kết quả điều trị tốt hơn cho bệnh nhân. Giấy cắn chỉ ghi được vị trí, kích thước và độ đậm nhạt của vùng tiếp xúc mà không xác định được lực cắn thực sự và thời gian diễn ra quá trình tiếp xúc cắn khớp. Vậy có phải vùng tiếp xúc càng rộng và càng đậm thì lực tiếp xúc càng lớn,nghiên cứu của tác giả Sarah Qadeer (2012) [28] và Maj Gen I.P. Majithia (2014)[21] đã chỉ ra rằng giấy cắn không phải là phương pháp chỉ điểm tin cậy về cường độ lực cắn mạnh hay nhẹ tác động thực sự khi dựa vào độ đậm nhạt và to nhỏ mà dấu cắn in lại được.

Theo Andrew Cobb (2013) [7] trong thực hành nha khoa giá trị của T-Scan được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau như:

• Kiểm tra khớp cắn khi bắt đầu và khi hoàn thành điều trị:
Sử dụng T-Scan trong quá trình điều trị không chỉ giúp chẩn đoán tình trạng khớp cắn xấu khi bắt đầu mà còn giúp chúng ta có mối liên hệ tốt hơn với bệnh nhân, các biểu đồ trực quan về lực cắn và thời gian của những lực này có thể giúp bệnh nhân hiểu hơn về tình trạng khớp cắn của họ và nâng cao khả năng chấp nhận điều trị, ngoài ra việc kiểm tra khớp cắn ban đầu được phục vụ như bệnh án gốc để so sánh với kết quả sau điều trị.
Ghi dấu kết thúc TXCK bằng T-Scan bằng cách cho bệnh nhân thực hiện các động tác như: cắn; siết chặt; trượt sang trái, sang phải và ra trước. Các động tác này được thực hiện dưới chỉ với sự hướng dẫn hoặc cả trợ giúp của bác sĩ nếu phải tìm đạt tương quan trung tâm.

• Điều chỉnh máng nhai:
Khi sử dụng T-Scan kết hợp với giấy cắn khi thực hiện máng nhai sẽ giúp tăng sự chính xác lên cao và giảm bớt các lần gặp chỉ cho việc điều chỉnh máng.

• Cân Bằng khớp cắn:
Cân bằng khớp cắn là một kĩ năng cực kì quan trọng đối với bất kì nha sĩ thực hành nào, T-Scan là một phương tiện bổ sung cho việc có thể thực hiện thành công sự cân bằng khớp cắn. Nó giúp xác định bất kì lực tiếp xúc lớn nào có thể dẫn tới những vấn đề trong tương lai. Sử dụng T-Scan đển cân bằng khớp cắn có thể làm tăng sự thoải mái của bệnh nhân ngay trong cuộc hẹn đầu tiên.

• Trong điều trị có thực hiện các phục hình:
T-Scan có thể sử dụng như là công cụ để kiểm tra và điều chỉnh cuối cùng trước khi kết thúc phục hình, đặc biệt là trong các phục hồi có bao gồm răng trước. Nó giúp đảm bảo điểm dừng ở tương quan trung tâm và hướng dẫn trước mà không có sự cản trở trên răng sau

• Implant:
T-Scan là một công cụ lý tưởng để kiểm tra khớp cắn với phục hình trên implants. Thường xuyên quá tải lực trên implant bởi các lực khớp cắn có thể dẫn tới thất bại implant. Trong khi đó T-Scan có thể nhận diện các lực quá tải này một cách dễ dàng.

Như trong các phục hồi đơn lẻ trên implant chúng ta có thể dễ dàng điều chỉnh để các phục hồi này không phải là vị trí tiếp xúc đầu tiên trong quá trình đóng hàm. Trong các trường hợp phục hồi trên implant nối liền với răng thật hoặc trong các trường hợp phục hồi khó hoặc toàn bộ, thiết bị này có thể giúp chúng ta kiểm soát trình tự tiếp xúc các răng theo mong muốn.

• Theo dõi các trường hợp phục hình:
Trong các trường hợp phục hình lớn mà chúng ta cần phải có chế độ kiểm tra đều đặn, T-Scan có thể đánh giá còn ổn định hay không và cho phép kiểm tra với các bản ghi trước đó để xác minh lại, điều này giúp tiên đoán khả năng thành công lâu dài của phục hồi. Chúng ta nên tiến hành kiểm tra định kì với phương tiện hữu ích này và thực hiện việc điều chỉnh nếu cần thiết.

Một khi T-Scan sử dụng ngay trong công việc điều trị hàng ngày, nó sẽ trở thành nguồn tài nguyên vô giá để giúp chúng ta điều chỉnh và tạo ra nền tảng khớp cắn khỏe mạnh cho bệnh nhân.

Các nghiên cứu về giá trị của thời gian ăn khớp và thời gian nhả khớp cũng đã được các tác giả thực hiện:
Nghiên cứu của Baldini A, Nota A , Cozza P (2014) trên 54 đối tượng được chia làm 2 nhóm:một nhóm 18 bệnh nhân Rối Loạn Thái Dương Hàm và nhóm 36 người không mắc bệnh nhận thấy “thời gian ăn khớp” ở nhóm mắc bệnh dài hơn nhóm không mắc bệnh [5]. Theo Robert Kerstein, cần điều chỉnh thời gian ăn khớpvề dưới 0,2 giây để đạt mức lý tưởng [17].

Trên T-Scan thì thời gian nhả khớp lý tưởng là thời gian từ lúc rời khỏi vị trí lồng múi sau đó trượt sang bên và ra trước đến khi chỉ còn răng nanh và các răng cửa tiếp xúc (các răng sau bên làm việc và không làm việc nhả khớp hoàn toàn), tức là hướng dẫn sang bên và ra trước phải nhả khớp lập tức và toàn bộ các răng sau. Sự nhả khớp lập tức này được xem là một thành phần của một khớp cắn khỏe mạnh, một đòi hỏi trong việc thiết kế khớp cắn tối ưu [14]. Theo Robert Kerstein kéo dài thời gian này sẽ làm tăng mức độ hoạt động cơ nhai, tăng mức độ chịu lực theo chiều ngang của răng sau. Điều này có thể dẫn tới các vấn đề trên răng, các cơ nhai vàcơ thái dương. Ông đề nghị thời gian này nên nhỏ hơn 0,5 giây [14].