Mối liên hệ giữa lực tác động và giấy cắn

Mối liên hệ giữa kích thước dấu ghi bởi giấy cắn và % lực cắn đo được bởi máy phân tích khớp cắn

1.Sarah Qadeer: DDS Department of Prosthodontics, TU, Thailand. Clinical Dentistry
2. Robert Kerstein: Department of Restorative Dentistry, School of Dental Medicine, Tufts University, Boston, Massachusetts, USA.
3,DMD, Ryan Jin Yung Kim: Korea University Guro Hospital, Seoul, Korea.
4.BDS, Jung-Bo Huh. Department of Prosthodontics, School of Dentistry, Pusan National University, Yangsan, Korea,
4, DDS, PhD, Sang-Wan Shin: Department of Conservative Dentistry, Seoul National University Dental Hospital, Seoul, Korea,
Corresponding author: Sang-Wan Shin
Department of Prosthodontics, Korea University Guro Hospital, Graduate School of
Clinical Dentistry, Korea University
97, Gurodonggil, Guro-Gu, Seoul, 152-703, Korea
Tel. 82 2 2626 1522: e-mail, swshin@korea.ac.kr
Received August22,2011 / Last Revison November 15,2011 /Accepted January 2,2012
© 2012 The Korean Academy of Prosthodontics
This is an Open Access article distributed under the terms of the Creative Commons Attribution Non-Commercial License (http://creativecommons.org/licenses/by- nc/3.0) which permits unrestricted non-commercial use, distribution, and reproduction in any medium, provided the original work is properly cited.

Người dịch : Dr Huynh Thanh Phat
Hiệu đính bởi: Dr Truong Van Linh
Mục tiêu : Kích cỡ ghi dấu bởi giấy cắn được chấp nhận rộng rãi như là công cụ xác định điểm lực tiếp xúc trên răng. Tuy nhiên, kích cỡ của dấu chỉ định vị tiếp xúc và tiếp xúc bề mặt, mà không xác định độ lớn lực cắn. Mục đích của nghiên cứu này giúp xác định liệu có mối liên hệ giữa kích cỡ của giấy cắn với lực tác dụng trên cùng răng tương tự.
Vật liệu và phương pháp nghiên cứu: 30 người nữ thực hiện cắn giấy cắn ở lồng múi tối đa để có dấu in trên mặt nhai răng sau, sau đó tiến hành chụp ảnh lại. Tiếp theo mỗi người thực hiện phương pháp ghi nhiều lần cắn để thu % lực cắn. Vùng tiếp xúc bề mặt lớn nhất và đậm nhất (n= 240 điểm) trên mỗi phần tư hàm(n=60 phần tư) sẽ được tính toán thành các điểm ảnh, và so sánh % lực trên cùng răng tương ứng.

Kết quả: Phân tích hồi qui tiến hành trên 2 biến về % lực trên răng (P<0,05) . Hệ số tương quan giữa diện tích dấu ghi được và % lực nhai có mối liên hệ thấp âm tính. Hệ số xác định chỉ ra mối liên hệ qua lại thấp giữa diện tích ghi dấu và lực (r2 = 0.067).Vùng dấu in lớn nhất trên mỗi phần tư hàm kết hợp với răng chịu lực mạnh nhất chỉ là 38,3% . Chỉ 62,3% diện tích dấu ghi bề mặt có thể được giải thích theo lực cắn ghi nhận được, trong khi hầu hết các dấu ghi khác không liên hệ với lực nhai trên răng tương tự.
Kết luận: Những bằng chứng trong nghiên cứu chỉ ra rằng kích cỡ dấu ghi bởi giây cắn thì không phải là chỉ điểm đáng tin cậy so với lực tác dụng, để hướng dẫn khi điều chỉnh khớp cắn.

Giới thiệu
Những phương tiện thường quy sử dụng trong thực hành lâm sàng cho việc hướng dẫn lựa chọn tiếp xúc trong quá trình điều chỉnh như giấy cắn, sáp ghi dấu cắn và màng kim loại shim-stock và thường kết hợp với “cảm giác” phản hồi của bệnh nhân. Nhưng không có vật liệu tĩnh nào trên đây cho phép xác định số lượng lực cắn. Sử dụng giây cắn là phương pháp thông dụng nhất để xác định lực quá mức trong những tiếp xúc cắn khớp khác nhau. Khớp cắn của bệnh nhân dựa trên dãi giấy cắn sau khi còn lại các dấu in mực khác nhau trên bề mặt răng.

Các nghiên cứu đã xuất bản về giấy cắn thì phân tích các đặc điểm vật lí của chúng (độ dày, sự cấu tạo, chất nền của loại mực, độ biến dạng đàn hồi ) Nhưng không có chứng cứ khoa học chỉ ra kích cỡ dấu ghi bởi giấy cắn hay đặc trưng bề mặt dấu có thể mô tả chính xác sự tải lực thay đổi khác nhau. Thêm vào đó “ khả năng hiểu biết người nhìn nhận” là yếu tố đòi hỏi của nhà lâm sàng, để xác định tiếp xúc nào thì chịu lực, tiếp xúc nào thì không. Studies conducted on mounted epoxy casts that were sub¬jected to varying applied occlusal loads, gợi ý rằng không có mối liên hệ trực tiếp giữa kích thước giấy cắn và tải lực trên răng tương ứng.

Thay đổi theo phân tích khớp cắn kĩ thuật số chỉ ra rằng nó phù hợp với đo lường lực nhai có thể lặp lại với tỉ lệ cao. Hệ thống phân tích khớp cắn T-Scan III ( Phiên bản phần mềm 8.0, Công ty Tekscan , South Boston, MA, USA) sử dụng bằng cách cắm điện, ghi nhận với cảm biến chứa đựng trong tấm kim loại (Sensor thế hệ thứ 4, Công Ty Tekscan South Boston, MA, USA) nó được quét với thời gian 0,03 giây, để đáp ứng với lực tiếp xúc khớp cắn khác nhau , tiếp xúc quá mức trên răng và trình tự thời gian tiếp xúc. Sensor ghi nhận được đặt trong miệng giữa 2 cung răng để thu được lực khớp cắn và dữ liệu về trình tự thời gian theo thời thực. ,khi 1 người thực hiện lồng múi tối đa hoặc di chuyển ngoại tâm, bản thu sẽ được ghi nhận.. Phần mềm sẽ hiển thị dữ liệu khớp cắn trên biểu đồ 2 chiều và 3 chiều (Hình 1). Dữ liệu lực khớp cắn thu được cho phép người ghi nhận cải thiện thông tin về định vị tiếp xúc cắn khớp để biểu hiện lực tiếp xúc quá mức, khi so sánh với cách “ phán xét” trên đặc điểm kích cỡ của dấu cắn bởi giấy.

Mục đích của nghiên cứu in-vivo này là để xác định liệu có mối liên hệ trực tiếp giữa kích cỡ.
Thêm vào đó, khi giấy cắn ở trong miệng, nó bị rách và thủng trong suốt khi bệnh nhân cắn ở lồng múi tối đa, chỉ ra rằng việc dấu có thể lặp lại là khó khăn8 . Mặc dù thiếu các chứng cứ khoa học, có các lời biện hộ lặp lại trên sách về cắn khớp rằng vùng ghi dấu biểu hiện các tải lực trên dấu đó 9-14 dấu in bởi giấy cắn với lực tác dụng trên răng tuonge tự. .

Nghiên cứu kiểm tra dấu in lớn nhất và đậm nhất được in bởi giấy cắn trên mỗi phần tư hàm, thường được mô tả là lực mạnh nhất .

Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 60 phim chụp trong miệng của dấu ghi bởi giấy cắn ở răng sau hàm trên ở mỗi phần tư cung hàm của 30 nữ vệ sinh viên nha khoa, tuổi từ 20 -25, được so sánh với phương pháp thu nhận lực cắn với cách cắn nhiều lần với máy T-Scan III. Các tình nguyện viên trong nghiên cứu làm việc tại Trung Tâm Nha Khoa Bệnh Viện Guro ở Hàn Quốc. Hội đồng y đức của bệnh viện Đại Học Guro Hàn Quốc đã phê duyệt cách thức nghiên cứu này. Trước khi 1 cá nhân tham gia nghiên cứu, họ sẽ được giải thích cách thức nghiên cứu và được hỏi những câu hỏi về cách thức nghiên cứ u để chấp nhận hay từ chối tham gia vào nghiên cứu.

Các tiêu chuẩn chọn mẫu trên các đối tượng là:
(1) Khớp cắn hạng I Angles
(2) Có sự hiện diện của tiếp xúc răng trước
(3) Có hiện diện của các răng cối nhỏ khỏe mạnh không bọc mão ở hàm trên tiếp xúc với răng dưới đối diện
(4) Có hiện diện của các răng cối lớn thứ nhất và thứ 2 khỏe mạnh không bọc mão ở hàm trên tiếp xúc với răng dưới đối diện

Tiêu chuẩn loại trừ bao gồm
(1) Có cắn hở răng trước
(2) Sai khớp cắn hạng II và III
(3) Có sự hiện diện của cắn sâu
(4) Có nghiến răng mãn tính
(5) Có sự hiện diện của loạn năng thái dương hàm
(6) Hiện diện của răng cối nhỏ khỏe mạnh không bọc mão ở hàm trên
(7) Sự thiếu tiếp xúc của Absence of healthy first and second non-crowned molar present in the maxillary arch
(8) Sự thiếu tiếp xúc của răng cối lớn dưới và răng tiền cối tương ứng
(9) Sự hiện diện của khí cụ chỉnh hình
Sự hiện diện hay thiếu răng cối lớn 3 không:
Hình 1 Hình ảnh phân tích khớp cắn trên biểu đồ 2 chiều và 3 chiều

image001
Ghi dấu bằng giấy cắn và thủ thuật chụp ảnh

Đối tượng ngồi thẳng đứng tựa lưng vào ghế nha khoa . Loại giấy cắn 2 chiều (Accufilm, Parkell, Inc. Edgewood, NY, USA) được bôi 1 lớp mỏng vaseline (Vaseline Petroleum Jelly, Johnson and Johnson, Langhorne, PA, USA) trước khi sử dụng để cải thiện hình ảnh của dấu ghi được khi đối tượng cắn tại lồng múi tối đa. Giấy cắn được giữ trong kẹp Miller sau đó cho đối tượng cắn liên tiếp 5 lần để hoàn thành. Mỗi đối tượng được hướng dẫn để đạt được lực cắn tối đa khi cắn trên các dãi giấy. Các hình ảnh chuẩn được chụp lại để so sánh với lực cắn trên răng tương tự sau khi ghi nhận bằng phương pháp nhiều lần cắn trên T-Scan III.

Thủ thuật chụp phim trong miệng
Tất cả hình ảnh được chụp với 1 camera SLR kĩ thuật số (Nikon D700, Nikon Inc., Melville, NY, USA) ở chế độ chỉnh tay, với một tiêu cự với độ dài cố định là 105mm, độ mở ống kính là F14, tốc độ chập là 1/125 giây. Một nguồn Flash thích hợp được them vào (Loại ring) Máy ảnh đặt trên kiền 3 chân cách gương trong miệng là 210cm ,cái gương đặt ở vị trí song song với hàm trên với ghế nha được đặt đứng xuống tối đa và phần tựa gần như nằm ngang. Thủ thuật này đã được chuẩn hóa giữa các đối tượng . Một bức ảnh sạch sẽ chứa dấu ghi được ở mỗi phần tư sẽ được chọn lựa để phân tích trong nghiên cứu. Bất kì hình ảnh dư hoặc thiếu sang sẽ bị loại bỏ. Hình ảnh chấp nhận được hiển thị dấu rõ rang và dễ dàng đánh giá được xem là tiêu chuẩn mẫu trong nghiên cứu.

Tính toán kích cỡ dấu ghi lớn nhất trên mỗi ảnh chụp
Một phần mềm vẽ tay (Adobe Photoshop CS4, San Jose, CA, USA) được sử dụng để phóng đại và tính diện tích dấu trên bề mặt bằng số lượng điểm ảnh của dấu lớn nhất và đậm nhất được tìm thấy trên mỗi cung phần tư.Phần mềm được sử dụng để phóng đại dấu cắn ghi được để phần mềm vẽ tay có thể vẽ dược ranh giới của dấu ghi bởi giấy cắn . Vùng dấu lớn nhất được vẽ đường viền ngoài và sẽ được tính toán số lượng điểm ảnh theo ranh giới (phần mềm vẽ tay sẽ tự động tính số lượng điểm ảnh trong khu vực vẽ) Răng và vị trí tiếp xúc của vùng dấu rộng nhất ghi nhận trong mỗi góc phần tư sẽ được ghi lại trong một bảng tính để phân tích số liệu trong tương lai nhất (Microsoft Office Excel 2003, Microsoft Corp. Seattle, WA, USA).

Thủ thuật ghi nhiều lần cắn với T-Scan III
Chiều rộng của răng cửa giữa trên mỗi đối tượng được đo với thước kĩ thuật số, để tùy chỉnh cung hàm theo kích thước răng đối tượng. Các chi tiết liên quan tới răng khác như ( sự hiện diện của mão, cầu, và thiếu hay có răng cối lớn thứ 3 ) được them vào trên cung hàm để cá nhân hóa mỗi đối tượng

Theo khuyến cáo của nhà sản xuất , trước khi tiến hành ghi nhận dữ liệu khớp cắn nào , mức độ nhạy cần phải được điều chỉnh để phù hợp với lực cắn trên từng bệnh nhân. Điều này thực hiện được bằng cách giảm hoặc tăng số lượng điện trên sensor. Độ nhạy thích hợp sẽ được lựa chọn để giới hạn số lượng cột lực tiếp xúc cao với màu hồng/đỏ được quan sát trên màn hình với tối đa 3 cột trong khi thực hiện kiểm tra trước khi ghi nhận.

Sau đó mỗi đối tượng được yêu cầu cắn lại và ghi nhận lịa 1 lần nữa, giữ răng chắc chắn ở lồng múi tối đa trong vòng 1-2 giây, trước khi lặp lại thêm 2 lần với việc phải giữ chặt ở lồng múi tối đa trong vòng 1-2 giây. Những “ Ghi nhận nhiều lần cắn “ chứa ít nhất 3 lồng múi tối đa thì được gọi là thành công . Trong 3 lần đóng hàm này phải đảm bảo có ít nhất 1 lần với lực tối đa thu được trên mỗi đối tượng

Với đồ thị lực và thời gian (Hình. 2), Lực đóng hàm lớn nhất sẽ được chọn ra từ bản thu, đường tổng lực ( đường màu đen trên màu xanh và đỏ ) tiến tới gần sát đường lực % . Ở hình 3 , Lần đóng hàm đầu tiên ghi nhận lực lớn
Hình 2 Force vs time graph of multi bite recording. A: Hình ảnh 23 chiều T-Scan ghi được biểu thị số lượng lực trên mỗi răng thể hiện bằng các cột màu B: Thu nhận 3 lần cắn tìm ra lần có tổng lực đóng hàm lớn nhất

image003

image005

Hình 3 Bên trái chứa răng có % lực và bên phải hình ảnh có dấu ghi bởi giấy cắn . Hình 3A: Ảnh 2 chiều trên T-Scan B: Phim trong miệng có dấu cắn ghi nhận nhất

Đường tổng lực của lần đóng hàm thứ 2 và thứ 3 tiến gần tới 60% tổng lực của lần thứ nhất. The vertical “Time Cursor” was then placed at the 100% point of the Total Force curve. This determined the corresponding force distribution present within the 2¬Dimensional force playback window representing the inter- cuspated, 100% point. The posterior tooth force percentage dis-tribution was then compared to the paper mark photograph of the same subjects’ corresponding articulating paper marks (Fig.
3).

Phân tích dữ liệu được thực hiện bằng cách đặt 2 bức ảnh có chứa lực cắn và ảnh có dấu ghi được bên cạnh nhau (Hình 3) Khi dấu ghi lớn nhất (đo bằng diện tích bề mặt theo điểm ảnh) tương ứng với lực nhai lớn nhất trên cùng răng trong góc phần tư thì nó được xem là “trùng lặp” Khi nó không trùng với lực nhai lớn nhất thì gọi là “ không trùng lặp”

Một ví dụ về cách tiến hành để xem sự trùng lặp , có thể nhìn trên Hình 4 . Dấu ghi lớn nhất ở góc phía sau bên phải là răng 15 với lực là 6% .Ở đây dấu in lớn nhất và lực cao nhất thì không trùng lặp bởi vì răng 17 chiếm tới 21% lực. Ngoài ra, dấu in lớn nhất ở cung phần tư thứ 2 là răng 26 trong khi lực cao nhất được quan sát thấy trên răng 27 . Trong trường hợp này, dấu in lớn nhất không trùng lặp với lực cao nhất

Phân tích thống kê
Sự trùng lặp và không trùng lặp sau đó được lập bảng ddeere phân tích thống kê đánh giá tần suất trùng và không trùng. Một phân tích hồi quy được tiến hành, sử dụng phần mềm JMP 5.0.1

(SAS Institute, USA) để xem sự phù hợp của 2 biến về lực trên từng răng . Ý nghĩa thống kê được thành lập với mức ý nghĩa là 95% (P<.05).

Hình 4 Trùng lặp % lực và diện tích dấu in : vùng lớn nhất (tính theo điểm ảnh ) ở góc phần tư thì trùng lặp với % lực tác động trên cùng rang

Kết Quả
Kết quả chỉ ra rằng dấu in lớn nhất trên mỗi góc phần tư trùng lặp với lực cao nhất trên cùng răng chiếm 38,3 % . Phân tích hồi quy 2 biến chỉ ra sự phù hợp về lực trên từng răng với số điểm ảnh , với giá trị của P là 0.0063 (P<.05) (Hình 5) Khi liên hệ dấu in lớn nhất trên mỗi góc phần tue ( T= 240) , hệ số tương quan giữa diện tích dấu in và % lực tính được là 0,259, chỉ ra mối tương quan thấp giữa % lực cắn và diện tích tiếp xúc trên bề mặt. Bình phương hệ số tương quan tạo ra hệ số xác định (r2 = 0.067) giữa diện tích bề mặt và lực. Số lượng lực tương ứng cái mà thực sự quan sát trong nghiên chỉ là 6 2/3% có nghĩa là 7% dấu ghi in bởi giấy được giải thích bởi lực cắn

BÀN LUẬN
Những phát hiện của nghiên cứu này là phù hợp với những phát hiện của nghiên cứu trước đó cố gắng liên hệ lực cắn với kích thước dấu ghi bởi giấy cắn4,5 Điều này đã được chứng minh nhiều lần rằng đặc điểm của bề mặt dấu không mô tả được lực nhai tác động lên răng. Hình 5 “diện tích dấu ghi và lực tiếp xúc,” được thể hiện trên đường hồi quy . Phân phối rộng của dữ liệu với giá trị thấp của hệ số xác định. Rất ít điểm trên cùng hoặc gần đường hồi quy,nhiều điểm nhất là ở phía xa của đường này. Phân tán dữ liệu như này mô tả mối tương quan thấp. Nếu có mối tương quan cao giữa diện tích dấu ghi và lực tác dụng được quan sát, các điểm dữ liệu sẽ được làm thành nhóm quanh đường hồi quy. Ngoài ra, với hầu hết các điểm phân bố trên và dưới đường hồi quy thì biểu đồ này thể hiện mong muốn có 1 tương quan cao là khó xảy ra.
Diện tích các điểm vs % tổng lực

image009image007
Hình 5 Bình phương của lực trên răng theo điểm ảnh
Ngoai 240 răng sau được phân tích, dấu ghi lớn nhất bởi giấy cắn và lực nhai phù hợp trong 23 lần, với lực nhai cao nhất trên cùng răng. Những phát hiện trong nghiên cứu chỉ ra mối tương quan thấp với 38,3 % giữa diện tích tiếp xúc bề mặt và % lực, và mối quan hệ qua lại của 6 2/3% khi sử dụng hệ số xác định (r2 = 0.067). Còn lại 93% của diện tích ghi dấu bề mặt là khi dấu tiếp xúc bề mặt răng giống như là từ hình thái mặt nhai gây ra.

Khi các bề mặt phẳng đối diện với nhau , các dấu in lớn dường như xuất hiện bởi do các tiếp xúc bề mặt dàn trải với mặt nhai của răng đối diện. Ngược lại. khi một bề mặt có điểm sắc nhọn với một bề mặt phẳng, dường như một dấu in nhỏ sẽ được tạo ra. Sau đó hình thái răng sẽ là yếu tố tối quan trọng để tạo ra bề mặt dấu in được, chứ không phải là do lực cắn tác động. Điều này giải thích tại sao một bề mặt dấu in lớn lại đi kèm với lực tác động thấp ,còn với dấu in nhỏ lại tạo ra lực liên kết cao hơn

Những phát hiện trong nghiên cứu này có ý nghĩa lâm sàng quan tringj vì nếu một nhà lâm sàng cho rằng dấu in lớn biểu hiện lực khớp cắn tác động lớn trong thủ thuật điều chỉnh khớp cắn, người đó sẽ chọn sai răng điều chỉnh và tốn nhiều thời gian. Dưới điều kiện nghiên cứu trên 4 răng theo góc phần tư được ghi dấu và đo lường lực cắn , với mối liên hệ ngẫu nhiên là 25%, tính được với dấu in lớn nhấ lực lớn nhất xảy ra trong 25%, hoàn toàn là tình cờ . Phát hiện với tỉ lệ 38,3% không tốt hơn so với xảy ra một cách tình cờ đơn lẻ Mối liên hệ thấp như vầy đề nghị các nhà lâm sàng phải ghi nhận lực cắn cao thật sự chứ không phải chỉ quan sát trên kết quả ghi dấu bởi giấy cắn.

Với những bằng chứng hiện có ttong y văn nha khoa, thì đặc điểm dấu in ghi bởi giấy cắn không ddangsd tin cậy để chỉ thị lực cắn 1″8 . trong giảng dạy nha khoa và các tác giả tiếp tục dạy hay xuất bản đặc trưng của dấu in không đị diện cho lực , rõ rang đây là vấn đề quan trọng khi điều trị cho bệnh nhân . Thực hành dựa trên chứng cứ đòi hỏi các nhà lâm sàng phải biết lắng nghe, thủ thuật dựa trên khoa học tạo ra điều trị tốt cho bệnh nhân . Chọn lựa lực cắn mạnh với việc ghi dấu hướng dẫn thì không phải dựa trên chứng cứ khoa học và tệ nhất dễ bị lỗi với tỉ lệ cao .

Các nhà lâm sàng thường cho rằng đặc diểm bề mặt in dấu sẽ là lựa chọn đúng khi chọn lực tiếp xúc mạnh.Với dấu in lớn nhất thể hiện lực lớn nhất với 38,3 % trường hợp, các nha sĩ chọn lựa sai với 62% trường hợp. Rõ ràng, một cách với một phương pháp tốt khi đo lực cắn trên lâm sàng được đảm bảo với chất lượng điều trị bệnh nhân tốt bởi vì những phát hiện trong nghiên cứu này đề nghị các nhà lâm sàng sử dụng dấu in lớn nhất bởi giấy cắn để hướng dẫn lựa chọn răng tiếp xúc mạnh nhất, đây là một cách không chính xác khi diều chỉnh khớp cắn. Đây là ý kiến cá nhân của tác giả, các nghiên cứu đã tồn tại mâu thuẫn với lực cắn khi ghi dấu cắn “ huyền thoại” liên hẹ với kích thước dấu ghi , chính vì vậy các nhà giáo dục và các tác giả nên ngừng duy trì việc làm “ huyền thoại” này.

Mặc dù các đối tượng được tập cắn ở lồng múi tối đa trong khi ghi dấu bằng giấy cắn và trong thủ thuật thu nhận lực khớp cắn, lực nhai ở góc cũng có thể hiện diện mà sẽ góp phần nâng cao mức lực ở những dấu in lớn nhất được đo đơn lẻ. Ngoài ra, răng với mức lực cao thường có nhiều tiếp xúc, sẽ nâng cao mức lực trên răng mà có dấu in lớn nhất . Những điều kiện khác nhau như vầy có thể dẫn tới sự triệt tiêu lẫn nhau trong quá trình đo lường, mặc dù chúng hiện diện trên cùng răng giống nhau ..

KẾT LUẬN
Những phát hiện trong nghiên cứu này chỉ ra rằng kích cỡ của dấu ghi bởi giấy cắn không phải chỉ điểm chính xác để điều chỉnh khớp cắn trên các răng tiếp xúc. Nếu 1 nhà lâm sàng cho rằng kích cỡ dấu ghi lớn nhất biểu hiện cho lực tiếp xúc lớn nhất, thì người đó dường như đã chọn nhầm răng để điều chỉnh, và còn mất nhiều thời gian.Tuy vậy, với một cách xác định không chủ quan, định lượng với máy phân tích khớp cắn để hướng dẫn lựa chọn các tiếp xúc răng cho việc điều chỉnh khớp cắn , có thể tạo ra kết quả toàn diện hơn và có bằng chứng hơn

Lời cảm ơn
Lời cảm ơn đặc biệt dành cho tiến sĩ Robert B. Kerstein đã đóng vai trò cố vấn cho nghiên cứu , và đến đội ngũ vệ sinh viên nha khoa tịa Bệnh Viện Guro đã tình nguyện tham gia nghiên cứu, và tới Simon Hathaway đã tiến hành phương pháp chuẩn hóa hình ảnh , tới John C. Radke và Giáo sư Choi Young Gyun cho việc thực hiện thống kê và giải thích các kết quả tìm thấy và tới Bryon Almeida chuyên viên bán hàng quốc tế của hãng Tekscan, với sự hỗ trợ của ông.

Tài liệu tham khảo
1. Schelb E, Kaiser DA, Brukl CE. Thickness and marking char¬acteristics of occlusal registration strips. J Prosthet Dent 1985; 54:122-6.
2. Halperin GC, Halperin AR, Norling BK. Thickness, strength, and plastic deformation of occlusal registration strips. J Prosthet Dent 1982;48:575-8.
3. Millstein P, Maya A. An evaluation of occlusal contact mark¬ing indicators. A descriptive quantitative method. J Am Dent Assoc
2001;132:1280-6.
4. Carey JP, Craig M, Kerstein RB, Radke J. Determining a rela¬tionship between applied occlusal load and articulating paper mark area. Open Dent J 2007;1:1-7.
5. Saad MN, Weiner G, Ehrenberg D, Weiner S. Effects of load and indicator type upon occlusal contact markings. J Biomed Mater Res B Appl Biomater 2008;85:18-22.
6. Carossa S, Lojacono A, Schierano G, Pera P. Evaluation of oc¬clusal contacts in the dental laboratory: influence of strip thick¬ness and operator experience. Int J Prosthodont 2000;13:201-4.
7. Millstein P. Know your indicator. J Mass Dent Soc 2008;56: 30-1.
8. Gazit E, Fitzig S, Lieberman MA. Reproducibility of occlusal marking techniques. J Prosthet Dent 1986;55:505-9.
9. Glickman I, Carranza FA Jr. Glickmans clinical periodontology: Prevention, diagnosis, and treatment of periodontal disease in the practice of general dentistry. 5th ed. Philadelphia; WB Saunders Co.; 1979. p. 951.
10. McNeill C. Science and practice of occlusion. IL; Quintessence
publishing; 1997. p. 421.
11. Okeson JP. Management of temporomandibular disorders and occlusion. 5th ed. St. Louis; Mosby; 2003. p. 416, 418, 605.
12. Kleinberg I. Occlusion practice and assessment. Oxford (UK); Knight publishing; 1991. p. 128.
13. Smukler H. Equilibration in the natural and restored denti¬tion. Chicago; IL; Quintessence publishing Co. 1991. p. 110.
14. Dawson PE. Functional occlusion: From TMJ to smile de¬sign. St. Louis, Mo.; Mosby; 2007. p. 47.
15. Kerstein RB, Lowe M, Harty M, Radke J. A force reproduction analysis of two recording sensors of a computerized occlusal analy¬sis system. Cranio 2006;24:15-24.
16. Kerstein RB, Radke J. The effect of disclusion time reduc¬tion on maximal clench muscle activity levels. Cranio 2006;24: 156-65.
17. Kerstein RB. Reducing chronic masseter and temporalis mus¬cular hyperactivity with computer-guided occlusal adjustments. Compend Contin Educ Dent 2010;31:530-4, 536, 538 passim.